Đờn kìm
Còn gọi đờn nguyệt vì thùng đờn tròn như vầng trăng. Hai dây, cần dài, phím cao để nhấn sâu. Tiếng chắc và ấm. Trong dàn tài tử, đờn kìm thường dẫn dắt, và người đờn kìm thường cũng là người giữ song lang.
Bài bản đờn ca tài tử
Hai mươi bài bản làm nền móng cho cả một nền nhạc. Người theo nghề đờn nào cũng bắt đầu từ đây.
6 Bắc
mùa xuân
7 Hạ
mùa hạ
3 Nam
mùa thu
4 Oán
mùa đông
Đờn ca tài tử Nam Bộ thành hình vào cuối thế kỷ 19, khi nhạc lễ, nhạc cung đình và dân ca theo chân người mở đất vào Nam. Người đờn, người ca ngồi quây quần trong nhà, chơi vì tri âm chứ không vì sân khấu.

Giới nghiên cứu, trong đó có giáo sư Trần Văn Khê, cho rằng đờn ca tài tử thành hình ở Nam Bộ vào cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20. Chất liệu của nó đến từ nhiều nguồn: nhạc lễ, nhã nhạc cung đình Huế, ca Huế, cùng những điệu hò, câu lý của miền sông nước. Tương truyền các nhạc quan triều Nguyễn theo phong trào Cần Vương vào Nam đã mang theo vốn nhạc ấy. Cái tên được nhắc nhiều nhất là nhạc sư Nguyễn Quang Đại, thường gọi thầy Ba Đợi, người về dạy đờn ở Long An.
Vào tới đất mới, tiếng nhạc cởi bỏ vẻ nghi lễ. Người ta trải chiếu trong nhà, ngoài hiên hay dưới bóng cây, đờn cho nhau nghe sau buổi làm. Không sân khấu, không phông màn, không bán vé; người nghe ngồi sát người đờn và thường cũng là bạn đờn. UNESCO mô tả đây là một nghệ thuật vừa có gốc bác học vừa có gốc dân gian, gắn với đời sống ruộng vườn, sông nước của người miền Nam, vang lên trong lễ hội, đám giỗ và những cuộc vui.
Tiếng đờn tài tử cũng đi xa từ rất sớm. Theo tư liệu Pháp mà hai nhà nghiên cứu Nguyễn Đức Hiệp và Nguyễn Lê Tuyên dẫn lại, nhạc tài tử đã được trình diễn ở hội chợ quốc tế Paris năm 1889; nhiều tài liệu còn nhắc tới ban nhạc của ông Nguyễn Tống Triều ở hội chợ thuộc địa Marseille năm 1906. Từ những lần bước lên sân khấu ấy, lối ca ra bộ ra đời, rồi lớn dần thành cải lương.
Hơi điệu là gì. Hơi, còn gọi là điệu, là màu cảm xúc của một bản đờn. Nhạc tài tử dùng thang năm âm hò, xự, xang, xê, cống; cùng năm âm ấy, đổi cách nhấn, rung, luyến láy là đổi hơi, và bản nhạc chuyển từ vui sang buồn. Theo hồ sơ UNESCO, người học đờn cần ít nhất ba năm để nắm kỹ thuật căn bản và làm chủ các hơi điệu.
Vì vậy học một bản đờn không chỉ là thuộc chữ nhạc. Người học nghe thầy đờn từng câu rồi làm theo cho tới khi ra đúng hơi: chữ nào rung, chữ nào nhấn, chữ nào để ngân. UNESCO gọi đó là lối truyền khẩu, dựa trên sự bắt chước từ thầy sang trò. Hai mươi bản tổ, xếp theo hơi, là chặng đường quen thuộc của người học đờn: đi hết hai mươi bản là đã qua đủ các hơi điệu chính của nhạc tài tử.
Tương truyền nhạc sư Nhạc Khị ở Bạc Liêu là người sắp hai mươi bản thành bốn nhóm, và người chơi tài tử ví chúng như bốn mùa trong năm. Chọn một mùa để xem.
Vui tươi, trong sáng, linh hoạt
Hơi Bắc là hơi của niềm vui. Giai điệu đi gọn trên năm bậc hò, xự, xang, xê, cống, tiết tấu rộn ràng, câu nhạc sáng sủa và dứt khoát. Sáu bản Bắc hợp với cảnh sum họp, gặp gỡ, những lúc lòng người thư thái.
Tên bản đã gợi sẵn không khí: Lưu Thủy là dòng nước chảy, Xuân Tình là tình xuân. Trong cách ví bốn mùa, sáu bản Bắc là mùa xuân, lúc vạn vật tươi mới. Nghe một bản Bắc, bạn sẽ thấy câu nhạc đi thẳng, ít khi dừng lâu ở một chữ để rung hay nhấn, nên người mới làm quen thường thấy dễ nghe.
Bấm nút phát cạnh tên bản để nghe 45 giây đầu phần thân bài, trích từ bản thu hòa tấu trong kho tư liệu của DC2T.
Tạo một bản theo hơi BắcDàn đờn tài tử nhỏ, vừa một chiếu ngồi. Xưa thường gặp đờn kìm, đờn tranh, đờn cò, tỳ bà và đờn tam; về sau có thêm đờn bầu, sáo, rồi cả những nhạc cụ phương Tây được sửa lại cho hợp như guitar phím lõm và violin. Song lang gõ giữ nhịp cho cả dàn.
Không có nhạc trưởng đứng chỉ huy. Mỗi cây đờn đi một đường riêng trên cùng một lòng bản, khi quấn vào nhau, khi nhường nhau, và người nghe sành nhận ra từng người qua ngón đờn của họ. Dàn đông hay ít tùy cuộc chơi: có khi chỉ hai, ba cây đờn với một giọng ca.


Còn gọi đờn nguyệt vì thùng đờn tròn như vầng trăng. Hai dây, cần dài, phím cao để nhấn sâu. Tiếng chắc và ấm. Trong dàn tài tử, đờn kìm thường dẫn dắt, và người đờn kìm thường cũng là người giữ song lang.
Mười sáu dây căng trên hàng nhạn xếp chéo mặt đờn. Tay phải gảy, tay trái nhấn và rung trên dây để uốn từng chữ. Tiếng trong, ngân dài như nước chảy. Ngày nay còn có đờn mười bảy dây và nhiều hơn.
Miền Bắc gọi là đờn nhị. Hai dây, không phím, kéo bằng cây cung mắc giữa hai dây. Vì không có phím, tiếng đờn trượt mềm từ chữ này sang chữ khác, réo rắt và gần với giọng người nhất trong dàn.
Còn gọi lục huyền cầm. Cây ghi-ta phương Tây được khoét lõm phần gỗ giữa các phím, nhờ vậy ngón tay nhấn sâu, kéo dài và rung được từng chữ theo hơi tài tử. Đây là cây đờn quen thuộc nhất khi đệm ca vọng cổ.
Ống trúc thổi ngang. Sáo không phải lúc nào cũng có mặt trong dàn tài tử; khi có, nó thêm một màu thanh thoát bay trên tiếng đờn dây.
Chữ tài tử chỉ người có tài. Người chơi đờn vì tri âm, vì yêu tiếng đờn, không lấy đó làm kế sinh nhai. Nhưng tài tử không có nghĩa là chơi cho qua: muốn ngồi vào chiếu đờn, người ta vẫn phải khổ luyện nhiều năm.
Trước khi vào bản, người đờn dạo một đoạn tự do, không theo nhịp, để so dây và gợi hơi điệu cho cả dàn. Nghe câu rao, người sành đã đoán được bản sắp đờn thuộc hơi nào.
Mỗi bản có một khung giai điệu cố định. Trên khung ấy, mỗi người thêm luyến láy theo cảm hứng, nên không lần đờn nào giống lần nào. UNESCO gọi đó là ngẫu hứng, tô điểm và biến hóa trên “giai điệu khung” của bài bản.
Chiếc mõ gỗ nhỏ, gõ bằng chân, tiếng đanh và gọn. Song lang đánh dấu những nhịp chính trong câu để cả dàn đi cùng nhau, dù mỗi người đang luyến láy một kiểu.
Cách một người rung, nhấn, mổ, luyến trên dây đờn, tức dấu ấn riêng của người ấy. Cùng một bản, hai người đờn ra hai vẻ, và giới chơi đờn nhận ra nhau qua ngón đờn.
Lối dạy đờn ca xưa nay: thầy đờn, trò nghe rồi làm theo; thầy ca, trò ca theo. Bài bản đi từ người này sang người khác bằng đôi tai và bàn tay nhiều hơn là bằng trang giấy.
Bạc Liêu là một trong những cái nôi của nhạc tài tử miền Tây. Nơi đây có nhạc sư Lê Tài Khí, tức Nhạc Khị, người lập ban cổ nhạc Bạc Liêu và, theo nhà nghiên cứu Trần Phước Thuận, có công chỉnh lý, hệ thống hóa hai mươi bản tổ. Học trò của ông, nhạc sĩ Cao Văn Lầu, viết bản Dạ cổ hoài lang vào khoảng năm 1919.
Từ bản nhạc hai mươi câu ấy, qua tay nhiều thế hệ nghệ sĩ, câu nhạc được kéo dài dần và trở thành vọng cổ, điệu ca quen thuộc nhất của sân khấu cải lương. Ngày nay ở Bạc Liêu có Khu lưu niệm Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ và nhạc sĩ Cao Văn Lầu, nơi đặt bức tượng trong ảnh.

Chọn Bắc, Hạ, Nam hay Oán và để DC2T đờn cho bạn một bản.